Đăng nhập
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
Những điều cần biết về viêm gan B
Viêm gan B là một trong những bệnh mãn tính nguy hiểm, gây ra cái chết cho hơn 600.000 người mỗi năm trên toàn thế giới. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay có đến hơn 300 triệu người mắc Viêm gan B trên toàn thế giới, con số này không ngừng tăng lên từ 3 đến 4 triệu người mỗi năm. Qua bài viết sau đây, chúng tôi sẽ cung cấp thông tin một cách chung nhất về căn bệnh này.

    Bác sỹ Mai Thanh - Trưởng Khoa Phòng chống bệnh truyền nhiễm - CDC tỉnh cho biết: "Viêm gan B là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất trên toàn cầu. Người ta ước tính rằng có 350 triệu người mang vi rút viêm gan B (HBV) mãn tính trên toàn thế giới. Có khoảng 15-40% bệnh nhân nhiễm HBV sẽ phát triển thành xơ gan, suy gan, và 500, 000 đến 1,2 triệu người chết vì nhiễm HBV hàng năm. Do tỷ lệ mắc và tử vong liên quan đến HBV cao, gánh nặng bệnh tật toàn cầu của HBV là đáng kể. Đã có vắc-xin an toàn và hiệu quả có khả năng bảo vệ từ 98% đến 100% đối với bệnh viêm gan B. Ngăn ngừa nhiễm trùng HBV là ngăn chặn sự phát triển của các biến chứng bao gồm bệnh mãn tính và ung thư gan".

Theo báo cáo của WHO, số lượng nhiễm HBV cao nhất ở Khu vực Tây Thái Bình Dương của và Khu vực Châu Phi của nơi lần lượt có 116 triệu và 81 triệu người bị nhiễm mãn tính. 60 triệu người bị nhiễm bệnh tại Khu vực Đông Địa Trung Hải, 18 triệu người ở Khu vực Đông Nam Á, 14 triệu người ở Khu vực Châu Âu và 5 triệu người ở Khu vực Châu Mỹ.

          Theo ước tính của WHO, tỷ lệ lưu hành kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg) ở Việt Nam cao từ 8% trở lên, một số nghiên cứu dựa trên dân số ở các tỉnh khác nhau ở miền Bắc Việt Nam cho thấy tỷ lệ HBsAg là 18,8%, 19,0% và 8,8%. Gần đây, một nghiên cứu dịch tễ học huyết thanh với những người tham gia được chọn mẫu ngẫu nhiên trong dân số chung ở một số tỉnh cho thấy tỷ lệ HBsAg cao là 15,3% và tỷ lệ kháng thể lõi viêm gan B (HBcAb) đặc biệt cao là 71,7%. Tổng hợp lại, những bằng chứng này cho thấy Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ nhiễm HBV cao. Hơn nữa, nhiễm HBV dai dẳng được dự đoán sẽ vẫn còn lưu hành trong thập kỷ tới, mặc dù chương trình tiêm chủng phòng Viêm gan B phổ cập cho trẻ sơ sinh đã đạt được những thành tựu nhất định.

          Theo kết quả thống kê của Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình, hiện tại có 3166 bệnh nhân mắc Viêm gan B mạn tính được quản lý và điều trị. Con số này cho thấy hiện nay có một số lượng không hề nhỏ những người nhiễm Virus Viêm gan B không được quản lý và theo dõi y tế.

        Bác sỹ Mai Thanh cho biết thêm: Tỷ lệ nhiễm HBV khác nhau rõ rệt giữa các khu vực trên thế giới. Viêm gan B rất lưu hành ở các khu vực đang phát triển với đông dân như Đông Nam Á, Trung Quốc, châu Phi cận Sahara và lưu vực sông Amazon, nơi có ít nhất 8% dân số là người mang HBV mạn tính. Ở những khu vực này, 70–95% dân số có bằng chứng huyết thanh học trong quá khứ hoặc hiện tại của nhiễm HBV. Hầu hết các bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B xảy ra trong thời kỳ sơ sinh hoặc thời thơ ấu. Vì hầu hết các bệnh ở trẻ em không có triệu chứng, có rất ít bằng chứng về bệnh cấp tính liên quan đến HBV, nhưng tỷ lệ bệnh gan mạn tính và ung thư gan ở người lớn là cao.

Tỷ lệ lưu hành trung bình

Viêm gan B phổ biến ở mức độ vừa phải ở một phần Đông và Nam Âu, Trung Đông, Nhật Bản và một phần Nam Mỹ. Khoảng 10–60% dân số có bằng chứng nhiễm trùng và 2-7% là người mang mầm bệnh mãn tính. Bệnh cấp tính liên quan đến HBV thường phổ biến ở những vùng này vì nhiều bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B xảy ra ở thanh thiếu niên và người lớn; tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm mạn tính cao được duy trì chủ yếu do nhiễm virus  xảy ra ở trẻ sơ sinh và trẻ em. Ở những khu vực này, các hình thức lây truyền hỗn hợp tồn tại, bao gồm lây truyền cho trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và người lớn.

Tỷ lệ lưu hành thấp

Tỷ lệ lưu hành của HBV thấp ở hầu hết các khu vực phát triển, chẳng hạn như Bắc Mỹ, Bắc và Tây Âu và Úc. Ở những vùng này, HBV lây nhiễm 5-7% dân số và chỉ 0,5–2% dân số là người mang mầm bệnh mãn tính. Ở những khu vực này, hầu hết các ca nhiễm HBV xảy ra ở thanh thiếu niên và thanh niên thuộc các nhóm nguy cơ cao được xác định tương đối rõ ràng, bao gồm người tiêm chích ma túy, đồng tính nam, nhân viên y tế, bệnh nhân cần truyền máu thường xuyên hoặc chạy thận nhân tạo. 

     Khả năng lây truyền

HBV lây lan qua tiếp xúc với chất dịch cơ thể bị nhiễm bệnh và ổ chứa tự nhiên duy nhất là con người. Máu là phương tiện truyền bệnh quan trọng nhất, nhưng các chất dịch cơ thể khác cũng có liên quan, bao gồm cả tinh dịch và nước bọt. Hiện nay, ba phương thức lây truyền HBV đã được công nhận: chu sinh, tình dục và đường tiêm/truyền qua da. Không có bằng chứng đáng tin cậy cho thấy nhiễm trùng trong không khí xảy ra và phân không phải là nguồn lây nhiễm. HBV không lây truyền qua thức ăn hoặc nước bị ô nhiễm, côn trùng hoặc các vật trung gian truyền bệnh khác.

Lây truyền chu sinh

Sự lây truyền HBV từ người mẹ mang mầm bệnh sang con của họ có thể xảy ra trong thời kỳ chu sinh, và dường như là yếu tố quan trọng nhất trong việc xác định tỷ lệ nhiễm ở các khu vực lưu hành bệnh cao, đặc biệt là ở Trung Quốc và Đông Nam Á. Trước khi vắc xin HBV được lồng ghép vào chương trình tiêm chủng thường quy, tỷ lệ trẻ sơ sinh trở thành người mang HBV là khoảng 10-30% đối với các bà mẹ có HBsAg dương tính nhưng HBeAg âm tính. Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm trùng chu sinh thậm chí còn lớn hơn, khoảng 70-90%, khi người mẹ có cả HBsAg dương tính và HBeAg dương tính. Con đường lây truyền HBV từ mẹ bị nhiễm sang con: lây truyền HBV qua nhau thai trong tử cung; lây truyền qua đường sinh sản trong quá trình sinh nở; hoặc lây truyền sau sinh trong quá trình chăm sóc hoặc qua sữa mẹ. Các nghiên cứu về sự lây truyền HBV qua nhau thai cho thấy hai cơ chế có thể xảy ra đường máu: một số yếu tố nhất định, chẳng hạn như phá thai, có thể làm cho vi mạch nhau thai bị đứt, do đó máu mẹ có HBV cao rò rỉ vào tuần hoàn của thai nhi chuyển giao tế bào: mô nhau thai bị nhiễm HBV có nồng độ cao trong máu mẹ từ mẹ sang thai nhi theo từng bước, và cuối cùng, HBV đến tuần hoàn của thai nhi qua các tế bào nội mô.

Đối với trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 1 tuổi bị nhiễm HBV xung quanh, nguy cơ nhiễm trùng trở thành mãn tính là 90%, có lẽ vì trẻ sơ sinh có hệ miễn dịch chưa trưởng thành. Một trong những lý do có thể dẫn đến tỷ lệ mãn tính cao là do sự truyền HBeAg qua nhau thai có thể gây ra sự dung nạp miễn dịch đối với HBV ở thai nhi.

Lây truyền tình dục

Lây truyền viêm gan B qua đường tình dục là một nguồn lây nhiễm chính ở tất cả các khu vực trên thế giới, đặc biệt là ở các khu vực lưu hành bệnh thấp, chẳng hạn như Bắc Mỹ. Viêm gan B được coi là một bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD). Từ lâu, nam đồng tính đã được coi là đối tượng có nguy cơ lây nhiễm cao nhất do quan hệ tình dục (70% nam đồng tính bị nhiễm bệnh sau 5 năm sinh hoạt tình dục). Tuy nhiên, lây truyền qua đường tình dục khác giới chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trong các ca nhiễm HBV. Ở những người khác giới, các yếu tố liên quan đến tăng nguy cơ nhiễm HBV bao gồm thời gian sinh hoạt tình dục, số lượng bạn tình, tiền sử bệnh lây truyền qua đường tình dục và huyết thanh dương tính với giang mai. Bạn tình của những người tiêm chích ma túy, gái mại dâm và khách của gái mại dâm có nguy cơ lây nhiễm đặc biệt cao.

Truyền qua đường tiêm chích/ qua da

Lây truyền qua đường tiêm bao gồm tiêm chích ma tuý, truyền máu và lọc máu, châm cứu, làm việc trong môi trường chăm sóc sức khoẻ, xăm mình và tiếp xúc trong gia đình. Ở Hoa Kỳ và Tây Âu, tiêm chích ma túy vẫn là một phương thức lây truyền HBV rất quan trọng (23% tổng số bệnh nhân). Nguy cơ nhiễm trùng tăng lên theo thời gian sử dụng thuốc tiêm. Mặc dù nguy cơ lây nhiễm HBV liên quan đến truyền máu đã giảm đáng kể kể từ khi xét nghiệm máu để tìm dấu hiệu HBV và loại trừ những người hiến tặng tham gia vào các hoạt động nguy cơ cao, việc lây truyền vẫn có thể xảy ra khi những người cho máu không có triệu chứng mang HBsAg âm tính. Các nguồn lây nhiễm dễ thấy bao gồm máu và các sản phẩm máu bị nhiễm HBV, với các dụng cụ phẫu thuật và đồ dùng bị nhiễm độc là những mối nguy hiểm có thể xảy ra khác. Lây truyền qua đường tiêm/qua da có thể xảy ra trong khi phẫu thuật, sau chấn thương do kim đâm, sử dụng ma túy qua đường tĩnh mạch và sau các thủ thuật như xỏ lỗ tai, xăm mình, châm cứu, cắt bao quy đầu và lấy cao răng. Sự lây lan bệnh viện của nhiễm HBV trong bệnh viện, đặc biệt là trong các đơn vị lọc máu, cũng như tại các đơn vị nha khoa, đã được mô tả rõ ràng, ngay cả khi thực hành kiểm soát nhiễm trùng được tuân thủ. Những người có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm những người thường xuyên phải truyền máu hoặc chạy thận nhân tạo, bác sĩ, nha sĩ, y tá và nhân viên y tế khác, kỹ thuật viên phòng thí nghiệm, người sử dụng ma túy qua đường tĩnh mạch, cảnh sát, lính cứu hỏa, công nhân giặt là và những người khác có khả năng tiếp xúc với những người có khả năng bị nhiễm bệnh máu và các sản phẩm từ máu.

Nguy cơ chuyển thành mãn tính thấp (dưới 5%) do lây truyền qua quan hệ tình dục, sử dụng ma túy qua đường tĩnh mạch, châm cứu và truyền máu. Những người có nguy cơ mắc các phương thức lây truyền này thường bị nhiễm HBV trong thời kỳ thanh thiếu niên hoặc tuổi trưởng thành mà không có khả năng dung nạp miễn dịch. Thay vào đó, bệnh tiến triển trực tiếp đến giai đoạn thanh thải miễn dịch và diễn ra trong thời gian ngắn, có thể chiếm tỷ lệ hồi phục tự phát cao.

 Phòng bệnh Viêm gan B

Phòng chủ động:

  • Tiêm vắc xin viêm gan virus B cho tất cả trẻ em trong vòng 24h sau sinh và các mũi tiếp theo lúc 2, 3 và 4 tháng tuổi theo chương trình tiêm chủng mở rộng.
  • Tiêm vắc xin viêm gan B cho các đối tượng chưa bị nhiễm HBV. Cần xét nghiệm HBsAg và anti-HBs trước khi tiêm phòng vắc xin. Để có được miễn dịch có hiệu quả tốt, cần tiêm 3 mũi (mũi thứ 2 sau tiêm mũi đầu 1 tháng, mũi thứ 3 sau 6 tháng)
  • Tiêm vắc xin viêm gan virus B cho nhân viên y tế.

Phòng lây truyền từ mẹ sang con:

  • Nếu mẹ mang thai có HBsAg (+): Tiêm vắc xin viêm gan virus B liều sau sinh cho trẻ theo chương trình tiêm chủng mở rộng và phối hợp với tiêm kháng thể kháng HBV cho trẻ. Nên tiêm cùng thời điểm nhưng ở hai vị trí khác nhau. Sau đó tiêm đầy đủ các liều vắc xin viêm gan virus B cho trẻ theo quy định của chương trình tiêm chủng mở rộng.
  • Nếu mẹ mang thai có HBV-DNA > 106 copies/ml (200.000 IU/mL): Dùng thuốc kháng virus (lamivudine hoặc tenofovir) từ 3 tháng cuối của thai kỳ. Xét nghiệm lại HBV DNA sau sinh 3 tháng để quyết định ngừng thuốc hoặc tiếp tục điều trị nếu mẹ đủ tiêu chuẩn điều trị. Theo dõi sát người mẹ để phát hiện viêm gan bùng phát.

Phòng không đặc hiệu:

  • Sàng lọc máu và chế phẩm máu.
  • Không dùng chung kim tiêm và các dụng cụ xuyên chích qua da khác.
  • Tình dục an toàn.
  • Tránh tiếp xúc với máu và các dịch tiết của bệnh nhân nhiễm HBV.
  • Thực hiện phòng ngừa chuẩn giống các bệnh lây truyền qua đường máu./.                                                        
    Nguyễn Minh
  • Từ khóa :